Thứ Tư , 16:38, Ngày 17/10/2018

Pháp luật và cuộc sống

Vụ đòi nợ ở Hải Dương: Tòa Cấp cao kháng nghị giám đốc thẩm

Sau 4 phiên tòa, ngỡ tưởng hồ sơ vụ án sẽ khép lại, nào ngờ sau khi nhận được Bản án số 40/DS-PT của TAND tỉnh Hải Dương, vợ chồng ông Thái và bà Hợp đã làm đơn kiến nghị đến TAND Tối cao.

Cách nay ít lâu, báo đã đăng loạt bài “Bóc trần sự thật về hậu quả kinh hoàng của nạn cho vay nặng lãi?”, gia đình ông Thái và bà Hợp là nạn nhân của nạn cho vay nặng lãi, với bao khổ đau, cùng cực nay qua phiên tòa phúc thẩm, vợ chồng bà Hợp lại bị thiệt hại nhiều về vật chất và tiền bạc. Với lý do chính đáng như thế, vợ chồng bà Hợp đã làm đơn khiếu nại và kiến nghị gửi Chánh án TAND Tối cao.

Các bị đơn và nguyên đơn tại phiên tòa phúc thẩm vụ án cho vay lãi suất cao do TAND tỉnh Hải Dương xét xử.

Rất may là sau khi nhận được đơn kiến nghị của vợ chồng bà Hợp, sau một thời gian thụ lý hồ sơ, mới đây ngày 31/08/2018, TAND Cấp cao Hà Nội đã ban hành quyết định kháng nghị Giám đốc thẩm số 26/2018/KN-DS đối với bản án dân sự phúc thẩm số 40/2017/DS-PT ngày 22/12/2017 của TAND tỉnh Hải Dương. Tiếp tục thông tin tới bạn đọc, và cũng thêm một lần cảnh báo về hiểm họa của nạn cho vay nặng lại, tại bài báo này, chúng tôi xin trích đăng nội dung bản quyết định kháng nghị giám đốc thẩm của TAND Cấp cao Hà Nội.

Văn bản này viết: Tại bản án dân sự phúc thẩm số 40/2017/DS-PT ngày 22/12/2017, TAND tỉnh Hải Dương quyết định: “Buộc bà Phạm Thị Hương trả lại cho vợ chồng bà Đinh Bích Hợp, ông Lương Đức Thái toàn bộ nhà, đất tại thửa… lô 120.19 tờ bản đồ QH01 diện tích 194,96m2 và thửa đất số 120 lô 120.20 tờ bản đồ số QHCQ-01 diện tích 247,82m2 khu đô thị phía Tây (khu biệt thự Đỉnh Long) thuộc phường Tân Bình, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương và các tải sản, cây cối gắn liên với đất, cây cối trên chậu cùng toàn bộ tài sản đã mượn theo phần kê khai cụ thể tại phụ lục thẩm định giá VCHP vào tháng 9/2016 (kèm theo bản án là bản phụ lục chứng thư đã liệt kê toàn bộ tài sản trong đó tại mục II của phụ lục từ số thứ tự từ 1 đến 26 và số thứ tự 36 là tài sản bà Hương mượn của bà Hợp, từ số thứ tự 27 đến số thứ tự 43 (trừ số thứ tự 36) là tài sản gắn liền với nhà đất).

Quyết định kháng nghị Giám đốc thẩm số 26/2018/KN-DS của TAND Cấp cao Hà Nội.

Bản án số 40/2017/DS-PT ngày 22/12/2017 của TAND tỉnh Hải Dương.

Để đảm bảo việc trả nợ của bà Hợp, ông Thái đối với bà Hương tiếp tục giao cho bà Hương quản lý số tài sản trên cho đến khi bà Hợp, ông Thái trả xong tiền nợ đối với bà Hương. Khi giao nhà đất bà Hương có trách nhiệm tự tháo dỡ hệ thống camera, 01 cửa cuốn, 01 máy điều hào cùng đồ dùng sinh hoạt của bà đã mang đến trong thời gian quản lý, sử dụng nhà đất để trả lại nhà đất cho bà Hợp, ông Thái.

Buộc vợ chồng ông Phạm Phùng Long, bà Lê Thị Hà trả lại cho vợ chồng bà Hợp, ông Thái giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất lô 120.19 tờ bản đồ QH01 diện tích 194,96 m2 do Ủy ban nhân dân thành phố Hải Dương cấp ngày 12/12/2011 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 120 lô 120.20 tờ bản đồ QHCQ-01 diện tích 247,82 m2 do Ủy ban nhân dân thành phố Hải Dương cấp ngày 02/10/2009.

Xác nhận vợ chồng bà Đinh Bích Hợp, ông Lương Đức Thái nợ bà Phạm Thị Hương tính đến ngày hai bên thỏa thuận công nợ và bán nhà (ngày 26/03/2013) là 14.143.615.752 đồng. Xác nhận số tiền nợ 14.143.615.752 đồng các bên sử dụng 3 tỷ đồng để mua căn nhà chung cư Ciputra Hà Nội, số tiền còn lại 11.143.615.752 đồng để đối trừ tiền mua nhà, đất khu biệt thự Long Đỉnh.

Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị Hương đòi bà Đinh Bích Hợp và ông Lương Đức Thái phải trả số tiền lãi theo quy định của pháp luật từ 26/03/2013 đến khi xét xử sơ thẩm ngày 21/02/2017, cụ thể là 11.143.615.752 x 0.75%/tháng x 0,025%/ngày x 46 tháng 26 ngày = 3.927.525.937 đồng, tổng cả hai khoản là 11.143.615.752 đồng + 3.927.525.937 đồng = 15.071.141.689 đồng làm tròn là 15.071.141.000 đồng. Tổng số tiền vợ chồng bà Đinh Bích Hợp, ông Lương Đức Thái nợ bà Phạm Thị Hương là 15.071.141.000 đồng + 3.000.000.000 đồng = 18.071.141.000 đồng. Bà Hợp, ông Thái phải có trách nhiệm trả bà Hương số tiền này.

Chấp nhận yêu cầu của bà Hợp, ông Thái đòi bà Hương số tiền 3.000.000.000 đồng mua căn nhà chung cư Ciputra, Hà Nội. Bà Hương phải có nghĩa vụ trả bà Hợp, ông Thái số tiền 3.000.000.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền 18.071.141.000 đồng, vợ chồng bà Đinh Bích Hợp, ông Lương Đức Thái còn phải trả bà Phạm Thị Hương số tiền là 18.071.141.000 đồng - 3.000.000.000 đồng = 15.071.141.000 đồng. Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí, chi phí định giá…

Ngày 29/01/2018, bà Đinh Bích Hợp có đơn đề nghị xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm bản án dân sự phúc thẩm nêu trên. Bà Phạm Thị Hương khởi kiện yêu cầu bà Đinh Bích Hợp trả tiền vay theo giấy nhậnnợ ngày 25/01/2013 cả gốc và lãi là 33.127.000.000 đồng. Bà Hợp không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hương mà chỉ thừa nhận nợ gốc là 7,5 tỷ đồng, đã trả 2,5 tỷ đồng, còn nợ 5 tỷ đồng.

Theo trình bày của bà Hương và bà Hợp thì giấy biên nhận ngày 25/01/2013 là giấy chốt nợ bao gồm cả tiền vay gốc và lãi từ năm 2008 nên số tiền bà Hợp nhận nợ 33.127.000.000 đồng không phải là tiền bà Hương thực tế cho bà Hợp vay.

Theo các giấy biên nhận và sổ sách thể hiện các bên vay nợ tiền như sau: Ngày 11/11/2008 vay 200 triệu đồng, ngày 15/01/2009 vay 500 triệu đồng, ngày 03/-3/2009 vay 500 triệu đồng, ngày 31/03/2009 vay 03 tỷ đồng, ngày 04/05/2009 vay 500 triệu đồng, ngày 22/07/2008 vay 1 tỷ đồng, ngày 14/09/2008 vay 300 triệu đồng, ngày 25/11/2008 vay 300 triệu đồng, ngày 06/06/2010 vay 800 triệu đồng, ngày 31/10/2012 vay 200 triệu đồng.

Ngoài ra, theo bà Hương thì ngày 01/09/2009 bà Hợp còn vay 2 tỷ đồng (nhưng không có giấy vay), tổng cộng là 9,3 tỷ đồng. Bà Hợp cho rằng khoản vay 2 tỷ đồng ngày 01/09/2009 là do bà tự khai tại cơ quan Công an (thực tế hai bên không lập văn bản vay), khoản tiền này bà nhận trực tiếp từ anh Bùi Đình Hoan nhưng bà đã trả qua việc bán lô đất số 53.05 khu đô thị mới phía Đông thành phố Hải Dương (bà Hợp mua của Tập đoàn Nam Cường) cho ông Bùi Huy Sùng (bố của anh Hoan) đứng tên người mua. Tại giấy biên nhận vay tiền ngày 06/06/2010 bà Hương viết cho bà Hợp thể hiện bà Hợp đã trả 2 tỷ đồng.

Ngoài ra, tại “Bản giải trình” ngày 04/11/2014 của bà Hợp về việc bán lô đất số 53.05 khu đô thị mới phía Đông thành phố Hải Dương cho ông Sùng thì chị Vũ Thị Thùy Dương –Trưởng phòng giao dịch SEABANK là người đứng tên hợp đồng môi giới với Tập đoàn Nam Cường hộ bà Hợp, chị Nguyễn Thị Nhung là thủ quỹ Tập đoàn  Nam Cường chi nhánh Hải Dương và một vài nhân chứng khác xác nhận bà Hợp là người giao dịch và thanh toán tiền mua lô đất số 53.05.

Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa thu thập chứng cứ về việc mua bán lô đất số 53.05 tại Tập đoàn Nam Cường và chưa lấy lời khai của ông Bùi Huy Sùng và những người làm chứng là chị Vũ Thị Thùy Dương, Nguyễn Thị Nhung… để làm rõ bà Hợp có trả tiền mua lô đất số 53.05 cho ông Sùng hay không? Từ đó làm rõ bà Hợp có đối trừ khoản vay 2 tỷ đồng bằng việc trả tiền mua lô đất số 53.05 khu đô thị mới phía Đông thành phố Hải Dương hay không nhưng vẫn buộc bà Hợp phải trả bà Hương khoản vay 2 tỷ đồng là thu thập chứng cứ không đầy đủ và chưa đủ cơ sở vững chắc.

Mặt khác, ngày 26/03/2013 bà Hợp, ông Thái ký “Giấy bán nhà nhượng đất” nhận nợ 30 tỷ đồng và bán cho bà Hương đất và tài sản gắn liền trên đất tại lô số  120.20 và lô số 120.19  khu đô thị mới Nam Cường (khu biệt thự Đỉnh Long) để trừ nợ. Này 23/07/2013, bà Hương đã nhận bàn giao nhà đất và trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản. Sau khi bà Hương nhận chuyển nhượng nhà đất của vợ chồng bà Hợp, ông Thái thì bà Hương viết giấy bán cho ông Phạm Phùng Long với giá 17 tỷ đồng. Ngày 17/06/2013, bà Hương viết giấy bán cho ông Phạm Phùng Long với giá 17 tỷ đồng.

Ngày 17/06/2013, bà Hương làm hợp đòng thế chấp nhà đất cho ông Long. Ngày 18/06/2013, ông Long đã đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan có thẩm quyền. Vì vậy, Tòa án cấp phúc thẩm buộc bà Hợp phải chịu tiền lãi đối với toàn bộ khoản tiền nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm 21/02/2017 trong khi bà Hương là người trực tiếp quản lý, sử dụng và chuyển nhượng lại nhà đất cho ông Long là không đúng.

Lẽ ra, khi hủy hợp đồng chuyển nhượng nhà đất lập ngày 26/03/2013 theo yêu cầu của các bên thì không buộc bà Hợp phải chịu tiền lãi đối với số tiền vay nợ nêu trên mới đảm bảo quyền lợi của bên sử dụng nhà và bên sử dụng tiền vay. Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm buộc bà Hương trả lại cho vợ chồng bà Hợp toàn bộ nhà đất khu biệt thự Đỉnh Long nhưng lại tiếp tục giao cho bà Hương quản lý nhà đất cho đến khi vợ chồng bà Hợp trả xong tiền nợ là làm hạn chế quyền và lợi ích hợp pháp đối với tài sản của vợ chồng bà Hợp.

Vì các lẽ trên, TAND Cấp cao tại Hà Nội quyết định kháng nghị đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 40/2017/DS-PT ngày 22/12/2017 của TAND tỉnh Hải Dương về vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng nhà đất và giao dịch dân sự khác” giữa nguyên đơn là bà Phạm Thị Hương với bị đơn là bà Đinh Bích Hợp, ông Lương Đức Thái, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Phùng Long, bà Lê Thị Hà.

Đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội xét xử giám đốc thẩm hủy toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm nêu trên của TAND tỉnh Hải Dương và Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2017/DS-ST ngày 21/02/2017 của TAND TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương, giao hồ sơ vụ án cho TAND TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật. Tạm đình chỉ thi hành bản án dân sự phúc thẩm nêu trên cho đến khi có quyết định giám đốc thẩm.”

Chúng tôi tiếp tục cử phóng viên theo dõi diễn tiến vụ việc để thông tin tới bạn đọc.

BBĐ

Nguồn : Kinh doanh & Pháp luật

Tin Liên quan

Tags : Giám đốc thẩm cho vay nặng lãi TAND tỉnh Hải Dương

Tin Pháp luật tiếp theo

Tin Pháp luật mới nhất