Hotline: 0969 332 828 Email: [email protected]
Thứ ba, 25/03/2025 15:16 (GMT+7)

Điều kiện để di chúc có hiệu lực

Di chúc là giấy tờ hợp pháp thể hiện nguyện vọng, mong muốn của một người về cách phân chia tài sản của người đó có được sau khi chết. Tuy nhiên, trong thực tiễn có không ít trường hợp người lập di chúc do thiếu hiểu biết pháp luật khiến di chúc được lập không hợp pháp dẫn tới tình trạng tranh chấp, mâu thuẫn giữa những người thừa kế, gây mất tình cảm, đoàn kết.

Điều kiện của người lập di chúc (Điều 625 Bộ luật Dân sự 2015)

Thứ nhất, người lập di chúc phải là người thành niên (từ đủ 18 tuổi) và minh mẫn, sáng suốt, nhận thức được hành vi của mình trong suốt quá trình lập di chúc. Trong trường hợp người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi muốn lập di chúc thì cần có sự đồng ý của cha mẹ hoặc người giám hộ về việc lập di chúc. Ngoài ra, đối với người thành niên nhưng không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ (mất năng lực hành vi dân sự; có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; hạn chế năng lực hành vi dân sự) thì di chúc của họ không được pháp luật công nhận.

Ảnh minh họa.
Ảnh minh họa.

Thứ hai, người lập di chúc phải hoàn toàn tự nguyện đối với việc lập di chúc. Lập di chúc là hành vi pháp lý đơn phương của người lập di chúc, vì vậy như những giao dịch dân sự khác, việc lập di chúc phải dựa trên ý chí tự nguyện của người lập di chúc. Tự nguyện ở đây là việc lập di chúc hoàn toàn theo ý mình, không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép và phải có sự thống nhất giữa ý chí và việc bày tỏ ý chí. Đối với trường hợp người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, cha mẹ hoặc người giám hộ chỉ có quyền đồng ý cho họ lập di chúc hay không chứ hoàn toàn không có quyền can thiệp vào nội dung di chúc, tức là không được can thiệp vào ý chí tự nguyện của chủ thể lập di chúc.

Điều kiện của nội dung di chúc

Thứ nhất, nội dung của di chúc được xác định là hợp pháp khi không vi phạm điều cấm của luật (những hành vi mà chủ thể không phép làm/thực hiện), không trái đạo đức xã hội (điểm b, khoản 1, Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015).

Thứ hai, theo Điều 631 Bộ luật Dân sự 2015, nội dung di chúc phải đảm bảo có những nội dung: Ngày, tháng, năm lập di chúc; Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc; Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản; Di sản để lại và nơi có di sản. Ngoài ra, di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, mỗi trang di chúc phải đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc. Trong trường hợp có sự tẩy xóa hay sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng phải ký tên ngay cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa.

Điều kiện về hình thức di chúc

Theo Điều 627 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc có 02 hình thức: di chúc được lập thành văn bản hoặc di chúc miệng.

Di chúc bằng văn bản có 04 loại: Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng; Di chúc bằng văn bản có người làm chứng; Di chúc bằng văn bản có công chứng; Di chúc bằng văn bản có chứng thực (Điều 628 Bộ luật Dân sự 2015). Điểm chung của 04 loại di chúc này là nội dung phải phù hợp với quy định tại Điều 631 Bộ luật Dân sự 2015.

Đối với di chúc bằng văn bản không có người làm chứng, người lập di chúc phải tự viết và ký vào bản di chúc.

Đối với di chúc bằng văn bản có người làm chứng, người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; ngược lại những người làm chứng cũng phải xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc. Người lập di chúc nếu không tự viết bản di chúc thì cần 02 người làm chứng trong quá trình lập di chúc. Người làm chứng phải phù hợp với quy định tại Điều 632 Bộ luật Dân sự 2015.

Di chúc miệng (Điều 629 Bộ luật Dân sự 2015) chỉ hợp pháp trong trường hợp người lập di chúc đang bị cái chết đe dọa đến tính mạng và không thể lập di chúc bằng văn bản. Lưu ý rằng, người lập di chúc miệng phải thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất 02 người làm chứng và người làm chứng phải ghi chép lại, cùng ký tên, điểm chỉ ngay sau khi người lập di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng, khi đó di chúc mới hợp pháp (khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015). Tuy nhiên, Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ (khoản 2 Điều 629 Bộ luật Dân sự 2015).

Để di chúc có hiệu lực, mỗi cá nhân cần đảm bảo tuân thủ đầy đủ các quy định về chủ thể, nội dung và hình thức. Thực tế cho thấy, không ít trường hợp do thiếu hiểu biết pháp luật mà vô tình vi phạm, đặc biệt ở hai khía cạnh quan trọng là nội dung và hình thức, khiến di chúc mất hiệu lực. Để bảo toàn trọn vẹn ý chí và nguyện vọng của mình, mỗi cá nhân nên tham khảo các điều kiện pháp lý bắt buộc, tránh rủi ro cho di chúc bị sau khi hoàn thành.

Cùng chuyên mục

Cận 1.5 độ có được miễn hay tạm hoãn nghĩa vụ quân sự?
Việc thực hiện nghĩa vụ quân sự là trách nhiệm của mỗi công dân nhằm góp phần bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, không phải ai cũng đủ điều kiện sức khỏe để nhập ngũ. Vậy, trường hợp cận 1.5 độ được miễn hay tạm hoãn nghĩa vụ quân sự hay không?
Trách nhiệm bồi thường đối với hành vi đốt vàng mã gây cháy tài sản của người khác
Tại Việt Nam, theo phong tục tập quán, văn hóa tâm linh, tín ngưỡng tồn tại bao đời nay là mỗi dịp lễ, Tết,… người dân đều có thói quen đốt vàng mã. Tuy nhiên, việc đốt vàng mã cũng gây nên không ít hệ lụy dẫn đến cháy nổ, gây thiệt hại lớn về tài sản, thậm chí tính mạng con người. Vậy, trong trường hợp đốt vàng mã nhưng vô tình gây cháy tài sản của người khác thì trách nhiệm ra sao?
TANDTC đề xuất các trường hợp được ghi âm, ghi hình tại phiên toà
Dự thảo Thông tư của Toà án nhân dân Tối cao (TANDTC) đề xuất nhiều quy định mới về nội quy phiên tòa, trong đó yêu cầu thiết bị điện tử phải để chế độ im lặng, việc ghi âm, ghi hình và phát trực tiếp diễn biến xét xử chỉ được thực hiện khi có sự cho phép của Chủ tọa phiên tòa.
Trường hợp không được xem xét đề nghị bổ nhiệm lại thẩm phán
Vừa qua, Toà án nhân dân (TAND) Tối cao đã ban hành Thông tư 02/2026/TT-TANDTC quy định về thủ tục, hồ sơ đề nghị bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, xét nâng bậc, điều động, biệt phái, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán TAND. Trong đó quy định rõ các trường hợp không được xem xét đề nghị bổ nhiệm lại thẩm phán.

Tin mới

Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết số 79 - NQ/TW và Nghị quyết số 80 -NQ/TW của Bộ Chính trị
Sáng ngày 25/02, Tổng Bí thư Tô Lâm đã dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79 - NQ/TW về phát triển kinh tế Nhà nước và Nghị quyết số 80 - NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Tạp chí Luật sư Việt Nam trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm.
Bộ NN&MT phản hồi việc cấp GCNQSDĐ cho đất lấn chiếm
Thửa đất có nguồn gốc lấn chiếm nhưng đã đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) lần đầu. Tại địa phương, hạn mức đất ở tối đa là 200m2. Trong trường hợp này, người dân có thể chỉ đăng ký công nhận 100m2 đất ở hay không? Bạn đọc L.H.K. hỏi.