Hotline: 0969 332 828 Email: [email protected]
Chủ nhật, 04/08/2024 13:05 (GMT+7)

Từ 01/7/2025 thay đổi điều kiện hưởng trợ cấp một lần khi nghỉ hưu

Theo Luật Bảo hiểm xã hội 2024, từ ngày 01/7/2025, để được hưởng trợ cấp một lần khi nghỉ hưu, lao động nam cần có thời gian đóng bảo hiểm xã hội cao hơn 35 năm, với lao động nữ là cao hơn 30 năm.

Từ 01/7/2025 thay đổi điều kiện hưởng trợ cấp một lần khi nghỉ hưu
Ảnh minh họa.

Đây là một trong những nội dung mới tại Luật Bảo hiểm xã hội 2024, chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2025.

Luật Bảo hiểm xã hội hiện hành quy định, điều kiện để hưởng trợ cấp một lần khi nghỉ hưu, là người lao động có thời gian đóng bảo hiểm xã hội cao hơn số năm tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 75% thì khi nghỉ hưu, ngoài lương hưu còn được hưởng trợ cấp một lần.

Mức trợ cấp một lần được tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội, cao hơn số năm tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 75%. Cứ mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội thì được tính bằng 0,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội.

Tuy nhiên, tại Luật Bảo hiểm xã hội 2024, đã thay đổi điều kiện hưởng trợ cấp một lần khi nghỉ hưu. Theo đó, từ ngày 01/7/2025, điều kiện hưởng trợ cấp một lần khi nghỉ hưu như sau: Đối với lao động nam, có thời gian đóng bảo hiểm xã hội cao hơn 35 năm. Đối với lao động nữ, có thời gian đóng bảo hiểm xã hội cao hơn 30 năm.

Mức hưởng trợ cấp một lần cho mỗi năm đóng cao hơn thời gian nêu trên bằng 0,5 lần, của mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội, cho mỗi năm đóng cao hơn đến tuổi nghỉ hưu.

Trường hợp người lao động đã đủ điều kiện hưởng lương hưu, mà tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội, thì mức trợ cấp bằng 02 lần, của mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội, cho mỗi năm đóng cao hơn số năm quy định, kể từ sau thời điểm đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật, đến thời điểm nghỉ hưu.

Theo Luật mới, người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương này, thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của số năm đóng bảo hiểm xã hội trước khi nghỉ hưu như sau:

Bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội trước ngày 01/01/1995, thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 05 năm cuối trước khi nghỉ hưu.

Bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày 01/01/1995, đến ngày 31/12/2000, thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 06 năm cuối trước khi nghỉ hưu.

Bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày 01/01/2001, đến ngày 31/12/2006, thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 08 năm cuối trước khi nghỉ hưu.

Bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày 01/01/2007, đến ngày 31/12/2015, thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 10 năm cuối trước khi nghỉ hưu.

Bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày 01/01/2016, đến ngày 31/12/2019, thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 15 năm cuối trước khi nghỉ hưu.

Bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày 01/01/2020, đến ngày 31/12/2024, thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 20 năm cuối trước khi nghỉ hưu.

Bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày 01/01/2025 trở đi, thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội, của toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội.

Người lao động có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội, theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định, thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian.

Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định, thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội chung của các thời gian.

Chính phủ cũng sẽ quy định mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội, đối với người lao động thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định trong một số trường hợp đặc biệt.

Cùng chuyên mục

Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết số 79 - NQ/TW và Nghị quyết số 80 -NQ/TW của Bộ Chính trị
Sáng ngày 25/02, Tổng Bí thư Tô Lâm đã dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79 - NQ/TW về phát triển kinh tế Nhà nước và Nghị quyết số 80 - NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Tạp chí Luật sư Việt Nam trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm.
Thời gian thai sản có được tính khi xét điều kiện nghỉ hưu sớm?
Đối với người lao động đang làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nghỉ việc hưởng chế độ thai sản mà thời gian hưởng chế độ thai sản được tính là thời gian đóng BHXH bắt buộc thì thời gian này được tính là thời gian làm nghề, công việc hoặc làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Đẩy mạnh đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới
Nhìn lại lịch sử cách mạng Việt Nam, vận hội của đất nước luôn gắn liền với những biến chuyển của thời đại. Ngay sau khi giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “sau vấn đề phòng thủ, ngoại giao là một vấn đề cần yếu cho một nước độc lập”, khẳng định mạnh mẽ vai trò và trách nhiệm của đối ngoại đối với quốc gia, dân tộc.

Tin mới

Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết số 79 - NQ/TW và Nghị quyết số 80 -NQ/TW của Bộ Chính trị
Sáng ngày 25/02, Tổng Bí thư Tô Lâm đã dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79 - NQ/TW về phát triển kinh tế Nhà nước và Nghị quyết số 80 - NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Tạp chí Luật sư Việt Nam trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm.
Bộ NN&MT phản hồi việc cấp GCNQSDĐ cho đất lấn chiếm
Thửa đất có nguồn gốc lấn chiếm nhưng đã đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) lần đầu. Tại địa phương, hạn mức đất ở tối đa là 200m2. Trong trường hợp này, người dân có thể chỉ đăng ký công nhận 100m2 đất ở hay không? Bạn đọc L.H.K. hỏi.