Không được sử dụng GPLX để làm thủ tục bay
Từ ngày 03/02/2026, hành khách đi máy bay sẽ không còn được sử dụng giấy phép lái xe để làm thủ tục bay, theo quy định tại Thông tư 14/2026/TT-BCA của Bộ Công an.
Thông tư 14/2026/TT-BCA ngày 03/02/2026 quy định chi tiết Chương trình an ninh hàng không và kiểm soát chất lượng an ninh hàng không Việt Nam, trong đó có điều chỉnh danh mục giấy tờ hợp lệ khi thực hiện thủ tục hàng không.

Cụ thể, theo Phụ lục IX Thông tư 14/2026/TT-BCA, đối với các chuyến bay nội địa, hành khách mang quốc tịch Việt Nam phải xuất trình một trong các loại giấy tờ gồm: Tài khoản định danh điện tử mức độ 2 (VNeID), hộ chiếu hoặc giấy thông hành, thẻ căn cước công dân hoặc thẻ căn cước. Trẻ em dưới 14 tuổi có thể sử dụng giấy khai sinh, trích lục hộ tịch hoặc văn bản xác nhận thông tin hộ tịch; trẻ dưới 02 tháng tuổi được dùng giấy chứng sinh.
Ngoài ra, một số giấy tờ đặc thù vẫn được chấp nhận như giấy chứng minh, chứng nhận của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân; thẻ đại biểu Quốc hội; thẻ đảng viên; thẻ nhà báo; thẻ kiểm soát an ninh cảng hàng không; giấy xác nhận nhân thân do công an xác nhận, có giá trị trong 06 tháng. Đáng chú ý, giấy phép lái xe chính thức bị loại khỏi danh sách giấy tờ hợp lệ để làm thủ tục bay như trước đây.
Đối với các chuyến bay quốc tế, hành khách phải có hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị xuất nhập cảnh theo quy định. Các giấy tờ liên quan đến cư trú như thị thực, giấy miễn thị thực, thẻ thường trú, thẻ tạm trú, thẻ đi lại doanh nhân APEC cũng được chấp nhận.
Trong trường hợp mất hộ chiếu, hành khách cần xuất trình công hàm của cơ quan ngoại giao, lãnh sự hoặc công văn của sở ngoại vụ, có xác nhận của công an địa phương, kèm ảnh và dấu giáp lai. Văn bản này có thời hạn sử dụng trong 30 ngày.
Không chỉ điều chỉnh danh mục giấy tờ, Thông tư 14/2026/TT-BCA còn thiết lập hệ thống quy định cụ thể hơn về bảo đảm an ninh hàng không, trong đó xác định rõ trách nhiệm pháp lý trực tiếp của hành khách đối với hành lý và nghĩa vụ tuân thủ đầy đủ các quy định an ninh trong suốt quá trình tham gia vận chuyển. Hành khách phải biết rõ nội dung hành lý mang theo người hoặc ký gửi, chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành lý của mình, đồng thời chấp hành nghiêm các yêu cầu kiểm tra, giám sát an ninh và các biện pháp kiểm soát tại cảng hàng không, sân bay.
Quy định mới nhấn mạnh việc hành khách phải chủ động kiểm soát hành lý, thay vì chỉ thụ động tuân theo quá trình kiểm tra của lực lượng chức năng. Khi trực tiếp mang hoặc ký gửi hành lý, hành khách được xác định là chủ thể chịu trách nhiệm trong toàn bộ hoạt động kiểm soát an ninh hàng không. Trường hợp mang hộ hành lý cho người khác nhưng không kiểm tra nội dung, nếu cơ quan chức năng phát hiện vật phẩm thuộc danh mục cấm hoặc không đủ điều kiện vận chuyển, người trực tiếp mang hoặc ký gửi vẫn có thể bị xem xét trách nhiệm.
Theo quy định, việc không biết nội dung bên trong hành lý không mặc nhiên loại trừ trách nhiệm, bởi pháp luật đã đặt ra nghĩa vụ phải biết và chịu trách nhiệm đối với hành lý của mình. Tùy vào tính chất vật phẩm, mức độ lỗi và các yếu tố cấu thành vi phạm, hình thức xử lý có thể là nhắc nhở, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật liên quan. Trách nhiệm tương tự cũng được áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân gửi hàng hóa, bưu gửi qua đường hàng không.
Bên cạnh đó, hành khách còn phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về khu vực hạn chế và quy trình kiểm tra an ninh tại cảng hàng không. Trách nhiệm này phát sinh xuyên suốt quá trình tham gia vận chuyển, từ thời điểm làm thủ tục, qua các khu vực kiểm tra, soi chiếu cho đến khi lên tàu bay.
Thông tư cũng quy định chi tiết quy trình xử lý của lực lượng chức năng khi phát hiện vật phẩm nguy hiểm. Tùy theo tính chất và mức độ nguy cơ, đơn vị kiểm soát an ninh có thể áp dụng các biện pháp nghiệp vụ như đánh giá rủi ro, cô lập, phong tỏa khu vực, phối hợp xử lý theo phương án khẩn nguy hoặc chuyển giao cho cơ quan có thẩm quyền.
Để bảo đảm phù hợp với các nguyên tắc về quyền ưu đãi và miễn trừ, Điều 26 của Thông tư 14/2026/TT-BCA quy định cơ chế kiểm tra riêng đối với túi ngoại giao và túi lãnh sự. Các kiện túi này không thực hiện soi chiếu hoặc kiểm tra trực quan thông thường mà được kiểm chứng thông qua việc kiểm tra hiện trạng niêm phong, dấu hiệu nhận biết bên ngoài, đồng thời đối chiếu hồ sơ liên quan, gồm hộ chiếu, giấy ủy quyền của người mang túi và văn bản xác nhận của cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự.
Trong trường hợp có căn cứ cho thấy túi chứa vật phẩm nguy hiểm hoặc thuộc danh mục cấm vận chuyển bằng đường hàng không, đơn vị vận chuyển được quyền từ chối chuyên chở, nêu rõ lý do và lập biên bản theo quy định. Việc soi chiếu chỉ được thực hiện khi có yêu cầu bằng văn bản từ hãng hàng không và được sự đồng ý bằng văn bản của giao thông viên ngoại giao hoặc lãnh sự.
