Hotline: 0969 332 828 Email: [email protected]
Thứ tư, 14/02/2024 08:43 (GMT+7)

Che giấu việc đánh bạc có bị phạt hành chính hay không?

Khi nào đánh bạc sẽ bị xử lý hình sự và khung hình phạt như thế nào? Che giấu việc đánh bạc có bị phạt hành chính hay không? Bạn đọc N.D. hỏi.

Che giấu việc đánh bạc có bị phạt hành chính hay không?Ảnh minh họa.

Liên quan đến vấn đề này, theo Bộ Công an, căn cứ quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bởi khoản 120 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017) về tội “Đánh bạc” như sau:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

Theo đó, người đánh bạc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi đó là đánh bạc trái phép (dưới bất kỳ hình thức nào), được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 Bộ luật Hình sự 2015 hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 Bộ luật Hình sự 2015, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, trường hợp này người đánh bạc có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì người đánh bạc trái phép có thể bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

- Có tính chất chuyên nghiệp;

- Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

- Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để đánh bạc;

- Tái phạm nguy hiểm.

Người đánh bạc trái phép còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Đối với hành vi che giấu việc đánh bạc, tại điểm c khoản 3 Điều 28 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi giúp sức, che giấu việc đánh bạc trái phép.

Theo đó, phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi giúp sức, che giấu việc đánh bạc trái phép.

Đây là mức phạt áp dụng đối với cá nhân. Trường hợp tổ chức bao che đánh bạc trái phép có thể áp dụng mức phạt bằng 02 lần cá nhân (theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP).

Cùng chuyên mục

Cận 1.5 độ có được miễn hay tạm hoãn nghĩa vụ quân sự?
Việc thực hiện nghĩa vụ quân sự là trách nhiệm của mỗi công dân nhằm góp phần bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, không phải ai cũng đủ điều kiện sức khỏe để nhập ngũ. Vậy, trường hợp cận 1.5 độ được miễn hay tạm hoãn nghĩa vụ quân sự hay không?
Trách nhiệm bồi thường đối với hành vi đốt vàng mã gây cháy tài sản của người khác
Tại Việt Nam, theo phong tục tập quán, văn hóa tâm linh, tín ngưỡng tồn tại bao đời nay là mỗi dịp lễ, Tết,… người dân đều có thói quen đốt vàng mã. Tuy nhiên, việc đốt vàng mã cũng gây nên không ít hệ lụy dẫn đến cháy nổ, gây thiệt hại lớn về tài sản, thậm chí tính mạng con người. Vậy, trong trường hợp đốt vàng mã nhưng vô tình gây cháy tài sản của người khác thì trách nhiệm ra sao?
TANDTC đề xuất các trường hợp được ghi âm, ghi hình tại phiên toà
Dự thảo Thông tư của Toà án nhân dân Tối cao (TANDTC) đề xuất nhiều quy định mới về nội quy phiên tòa, trong đó yêu cầu thiết bị điện tử phải để chế độ im lặng, việc ghi âm, ghi hình và phát trực tiếp diễn biến xét xử chỉ được thực hiện khi có sự cho phép của Chủ tọa phiên tòa.
Trường hợp không được xem xét đề nghị bổ nhiệm lại thẩm phán
Vừa qua, Toà án nhân dân (TAND) Tối cao đã ban hành Thông tư 02/2026/TT-TANDTC quy định về thủ tục, hồ sơ đề nghị bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, xét nâng bậc, điều động, biệt phái, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán TAND. Trong đó quy định rõ các trường hợp không được xem xét đề nghị bổ nhiệm lại thẩm phán.

Tin mới

Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết số 79 - NQ/TW và Nghị quyết số 80 -NQ/TW của Bộ Chính trị
Sáng ngày 25/02, Tổng Bí thư Tô Lâm đã dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79 - NQ/TW về phát triển kinh tế Nhà nước và Nghị quyết số 80 - NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Tạp chí Luật sư Việt Nam trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm.
Bộ NN&MT phản hồi việc cấp GCNQSDĐ cho đất lấn chiếm
Thửa đất có nguồn gốc lấn chiếm nhưng đã đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) lần đầu. Tại địa phương, hạn mức đất ở tối đa là 200m2. Trong trường hợp này, người dân có thể chỉ đăng ký công nhận 100m2 đất ở hay không? Bạn đọc L.H.K. hỏi.