Hotline: 0969 332 828 Email: [email protected]
Thứ hai, 18/11/2024 13:06 (GMT+7)

Quyền của người tham gia bảo hiểm xã hội theo Luật mới

Người thụ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội được nhận các chế độ bảo hiểm xã hội đầy đủ, kịp thời, thuận tiện; hưởng bảo hiểm y tế trong trường hợp đang hưởng lương hưu; nghỉ việc hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng...

Theo thông tin từ đại biển Bảo hiểm xã hội TP. HCM, khoản 2 Điều 10 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 quy định người thụ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội (áp dụng từ ngày 01/7/2025) có các quyền sau đây:

Ảnh minh hoạ.
Ảnh minh hoạ.

- Nhận các chế độ bảo hiểm xã hội đầy đủ, kịp thời, thuận tiện;

- Hưởng bảo hiểm y tế trong trường hợp đang hưởng lương hưu; nghỉ việc hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng; trong thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng; trong thời gian nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng hoặc nghỉ việc hưởng trợ cấp ốm đau đối với người lao động bị mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành; đang hưởng chế độ quy định tại Điều 23 của Luật này.

- Được thanh toán phí giám định y khoa đối với trường hợp không do người sử dụng lao động giới thiệu đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động mà kết quả giám định y khoa đủ điều kiện để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật này.

- Ủy quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện bảo hiểm xã hội. Trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và chế độ khác theo quy định của Luật này thì văn bản ủy quyền có hiệu lực tối đa là 12 tháng kể từ ngày xác lập việc ủy quyền. Văn bản ủy quyền phải được chứng thực theo quy định của pháp luật về chứng thực.

- Đối với người từ đủ 80 tuổi trở lên nếu có nhu cầu thì được cơ quan bảo hiểm xã hội hoặc tổ chức dịch vụ được cơ quan bảo hiểm xã hội ủy quyền thực hiện việc chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội tại nơi cư trú trên lãnh thổ Việt Nam.

- Được cơ quan bảo hiểm xã hội định kỳ hằng tháng cung cấp thông tin về việc hưởng chế độ bảo hiểm xã hội thông qua phương tiện điện tử; được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận thông tin về hưởng bảo hiểm xã hội khi có yêu cầu;

- Khiếu nại, tố cáo và khởi kiện về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật;

- Từ chối hưởng chế độ bảo hiểm xã hội.

Theo Luật bảo hiểm xã hội năm 2014, người thụ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội có các quyền lợi cơ bản sau:

- Quyền được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội: Chế độ ốm đau: Người tham gia bảo hiểm xã hội được hưởng trợ cấp ốm đau khi phải nghỉ làm do ốm đau hoặc cần chăm sóc con ốm; Chế độ thai sản: Người lao động nữ được hưởng chế độ thai sản khi mang thai, sinh con, hoặc nhận nuôi con dưới 6 tháng tuổi; người lao động nam được hưởng chế độ khi vợ sinh con; Chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp: Người lao động bị tai nạn lao động hoặc mắc bệnh nghề nghiệp sẽ nhận được trợ cấp và hỗ trợ phục hồi chức năng; Chế độ hưu trí: Người lao động khi đủ điều kiện về tuổi và thời gian tham gia bảo hiểm xã hội được nhận lương hưu hàng tháng; Chế độ tử tuất: Khi người lao động mất, thân nhân của họ được nhận trợ cấp mai táng và trợ cấp tuất hàng tháng hoặc một lần.

- Quyền được cấp và quản lý sổ bảo hiểm xã hội: Người lao động được cấp và tự quản lý sổ bảo hiểm xã hội để theo dõi quá trình tham gia và quyền lợi bảo hiểm xã hội của mình.

- Quyền khiếu nại, tố cáo: Người lao động có quyền khiếu nại, tố cáo nếu quyền lợi bảo hiểm xã hội của họ bị xâm phạm hoặc không được giải quyết đúng quy định.

- Quyền được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội: Khi nghỉ việc hoặc dừng đóng bảo hiểm xã hội, người lao động có quyền bảo lưu thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội để khi tham gia lại có thể cộng dồn.

- Quyền tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện: Người lao động có thể tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện để được hưởng chế độ hưu trí và tử tuất khi không thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Các quyền lợi này giúp bảo vệ và hỗ trợ người lao động, đảm bảo an sinh xã hội và giúp họ ứng phó với các rủi ro trong quá trình lao động và khi hết tuổi lao động.

Cùng chuyên mục

Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết số 79 - NQ/TW và Nghị quyết số 80 -NQ/TW của Bộ Chính trị
Sáng ngày 25/02, Tổng Bí thư Tô Lâm đã dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79 - NQ/TW về phát triển kinh tế Nhà nước và Nghị quyết số 80 - NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Tạp chí Luật sư Việt Nam trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm.
Thời gian thai sản có được tính khi xét điều kiện nghỉ hưu sớm?
Đối với người lao động đang làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nghỉ việc hưởng chế độ thai sản mà thời gian hưởng chế độ thai sản được tính là thời gian đóng BHXH bắt buộc thì thời gian này được tính là thời gian làm nghề, công việc hoặc làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Đẩy mạnh đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới
Nhìn lại lịch sử cách mạng Việt Nam, vận hội của đất nước luôn gắn liền với những biến chuyển của thời đại. Ngay sau khi giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “sau vấn đề phòng thủ, ngoại giao là một vấn đề cần yếu cho một nước độc lập”, khẳng định mạnh mẽ vai trò và trách nhiệm của đối ngoại đối với quốc gia, dân tộc.

Tin mới

Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết số 79 - NQ/TW và Nghị quyết số 80 -NQ/TW của Bộ Chính trị
Sáng ngày 25/02, Tổng Bí thư Tô Lâm đã dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79 - NQ/TW về phát triển kinh tế Nhà nước và Nghị quyết số 80 - NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Tạp chí Luật sư Việt Nam trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm.
Bộ NN&MT phản hồi việc cấp GCNQSDĐ cho đất lấn chiếm
Thửa đất có nguồn gốc lấn chiếm nhưng đã đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) lần đầu. Tại địa phương, hạn mức đất ở tối đa là 200m2. Trong trường hợp này, người dân có thể chỉ đăng ký công nhận 100m2 đất ở hay không? Bạn đọc L.H.K. hỏi.