Hotline: 0969 332 828 Email: [email protected]
Thứ tư, 23/07/2025 11:44 (GMT+7)

Quyền lợi của phụ nữ trong giải quyết vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật

Đời sống xã hội ngày càng phát triển, tình trạng bất bình đẳng giới cũng ngày càng thu hẹp, nhận thức về vai trò và vị trí của nữ giới dần được nâng cao. Trong bối cảnh đó, các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi của phụ nữ đã được chú ý nhiều hơn qua những lần các văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới. Bài viết nhằm phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong giải quyết vụ án ly hôn để từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa pháp luật Việt Nam đối với lĩnh vực này.

So với nam giới, phụ nữ luôn là đối tượng phải chịu nhiều yếu tố bất lợi, thiệt thòi hơn bởi những đặc điểm phái tính vốn có của mình. Thực tiễn, phụ nữ phải chịu ít nhất một hoặc nhiều hình thức bạo lực trong đời. Bên cạnh đó, phụ nữ còn phải đối mặt với nhiều vấn đề khác như sức khỏe sinh sản hay bất bình đẳng trong điều kiện tiếp xúc văn hóa - xã hội, tạo lập và sở hữu tài sản. Thực tế là, ở nhiều gia đình Việt Nam, phụ nữ “mặc nhiên”được xem là người phải chịu trách nhiệm chăm sóc nhà cửa, con cái và công việc nội trợ đôi khi trở thành một “nghề nghiệp” gắn liền với người phụ nữ trong cuộc sống hôn nhân, nhiều trường hợp nó còn thay thế cả công việc tạo ra nguồn thu nhập ngoài xã hội của phụ nữ.

Đời sống xã hội ngày càng phát triển, tình trạng bất bình đẳng giới cũng ngày càng thu hẹp, nhận thức về vai trò và vị trí của nữ giới dần được nâng cao. Trong bối cảnh đó, các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi của phụ nữ đã được chú ý nhiều hơn qua những lần các văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới. Bài viết nhằm phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong giải quyết vụ án ly hôn để từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa pháp luật Việt Nam đối với lĩnh vực này.

ly-hon-1753245751.jpg
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Thứ nhất: Về Quyền khởi kiện vụ án ly hôn

Hạn chế quyền ly hôn của người chồng khi người vợ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi

Bộ luật Dân sự 2015 công nhận quyền yêu cầu ly hôn của vợ, chồng như một quyền nhân thân, gắn liền với chủ thể. Trên tinh thần đó, Luật Hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) ghi nhận và bảo vệ quyền tự do về hôn nhân của vợ và chồng, trong đó có cả quyền ly hôn. Điều này được thể hiện tại Điều 51, Luật HN&GĐ về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn. Vợ, chồng có thể ly hôn trong hai trường hợp thuận tình ly hôn và ly hôn theo yêu cầu của một bên. Đồng thời, Luật HN&GĐ đã có quy định cụ thể nhằm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong giải quyết vụ án ly hôn. Cụ thể: tại khoản 3 Điều 51 Luật HN&GĐ đã hạn chế quyền yêu cầu giải quyết ly hôn của người chồng đối với trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Quy định này đã đảm bảo quyền lợi cho người phụ nữ trong lúc họ đang cần được bảo vệ nhất. Tức là, dù có đủ các căn cứ để ly hôn theo yêu cầu của một bên tại khoản 1 Điều 56, Luật HN&GĐ thì người chồng vẫn không có quyền yêu cầu ly hôn trong khi vợ đang mang thai, sinh con, hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Hơn nữa, ở trường hợp này người vợ vẫn được đảm bảo quyền ly hôn nếu họ nộp đơn cho Tòa án.

Vai trò của Hội Liên Hiệp phụ nữ Việt Nam trong vấn đề khởi kiện vụ án ly hôn

Hội Liên Hiệp phụ nữ Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của phụ nữ Việt Nam với tôn chỉ hoạt động là vì sự bình đẳng giới và phát triển cho phụ nữ, đại diện cho quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ Việt Nam. Pháp luật tố tụng dân sự hiện hành cho phép Hội Liên hiệp phụ nữ khởi kiện vụ án ly hôn trong một số trường hợp. Cụ thể, tại khoản 1, Điều 187, BLTTDS quy định: “Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình”. Như vậy, quyền khởi kiện vụ án ly hôn không chỉ bó hẹp trong phạm vi các đương sự (vợ và chồng), những người thân thích của đương sự trong trường hợp quy định tại Khoản 3, Điều 56, Luật HN&GĐ, mà còn mở rộng ra cho các cơ quan khác bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em, trong đó có Hội Liên Hiệp phụ nữ Việt Nam. Có thể thấy, pháp luật Tố tụng dân sự hiện hành đã dành phần ưu tiên bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong các vụ án ly hôn bằng cách trao quyền khởi kiện để bảo vệ phụ nữ cho một chủ thể thứ ba đại diện cho quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ Việt Nam.

Thứ hai: Ưu tiên quyền nuôi con của phụ nữ sau khi chấm dứt quan hệ hôn nhân

Luật HN&GĐ ưu tiên trao quyền nuôi con dưới 03 tuổi cho người mẹ tại khoản 3 Điều 81: “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Quy định này đã đảm bảo lợi ích cho cả phụ nữ và trẻ em. Pháp luật đã có cái nhìn ưu ái hơn với người phụ nữ, tạo điều kiện thuận lợi cho họ thực hiện thiên chức làm mẹ. Việc trao cho người mẹ quyền nuôi con dưới 03 tuổi là phù hợp với thực tiễn xã hội, đảm bảo lợi ích của người mẹ và trẻ em, bởi suy cho cùng, trong giai đoạn này, người mẹ vẫn đóng vai trò quan trọng hơn đối với sự phát triển của trẻ em, đặc biệt là sự phát triển về thể chất. Cho nên, việc trao cho người mẹ quyền trực tiếp nuôi dưỡng trẻ dưới 03 tuổi đã bảo vệ được lợi ích tốt nhất cho phụ nữ trong vụ án ly hôn có tranh chấp về quyền nuôi con.

Thứ ba: Quyền được tính công sức ngang với lao động có thu nhập khi phân chia tài sản

Trong xã hội Việt Nam hiện nay vẫn tồn tại nhiều gia đình theo kiểu truyền thống, đó là người vợ làm công việc nội trợ, không tham gia sản xuất và tạo ra nguồn thu nhập từ xã hội cho gia đình, vẫn sẽ được xem xét như lao động có thu nhập đóng góp công sức vào việc tạo lập khối tài sản chung theo khoản 1 Điều 29 Luật HN&GĐ và điểm b, khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT- TANDTC-VKSNDTC-BTP về Hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật HN&GĐ. Điều này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn đời sống hôn nhân, việc tạo ra thu nhập của một bên cần có sự hỗ trợ, hợp tác của bên kia trong công việc chăm sóc con cái, gia đình. Do vậy, tài sản mà một người tạo ra không chỉ thuộc về riêng người đó mà còn là công sức đóng góp của người còn lại trong mối quan hệ hôn nhân. Quy định này đã bảo đảm quyền lợi của phụ nữ trong vấn đề phân chia tài sản chung khi giải quyết vụ án ly hôn. Bởi vì, như đã trình bày, thực tế chung của nhiều gia đình Việt Nam là người vợ sẽ đảm nhận công việc nội trợ, trong khi người chồng đóng vai trò là lao động chính của gia đình.

Theo quan điểm tác giả, quy định chia tài sản chung khi ly hôn nên đặt ra một cách linh hoạt tùy thuộc vào hoàn cảnh thực tế. Tại Việt Nam “Vai trò chăm sóc gia đình gây nên nhiều hạn chế cơ hội việc làm và nghề nghiệp của phụ nữ, nhiều phụ nữ không làm việc vì phải chăm sóc gia đình hoặc phụ nữ đi làm lại thường chọn công việc gần nhà và có thời gian dành cho gia đình”. Rõ ràng, chính công việc nội trợ, chăm sóc con cái, gia đình đã gây nhiều cản trở cho phụ nữ trong vấn đề tạo nên thu nhập từ việc lao động ngoài xã hội. Hơn nữa, việc chăm sóc con cái, gia đình đã chiếm rất nhiều công sức và thời gian của phụ nữ, tương đương với việc tham gia sản xuất, kinh doanh, tạo ra của cải, vật chất từ bên ngoài.

Cho nên, dù công việc nội trợ, chăm sóc gia đình, con cái không trực tiếp tạo ra thu nhập cho gia đình nhưng vẫn được xem là đóng góp tạo lập, phát triển khối tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Quy định chia tài sản chung khi ly hôn đã không áp đặt một cách cứng nhắc dựa trên người trực tiếp tạo lập, phát triển khối tài sản đó mà xem xét như công sức chung của cả hai bên, bởi mỗi bên đều có đóng góp, dù trực tiếp, dù gián tiếp, công sức đóng góp ấy vẫn phải được ghi nhận và đảm bảo quyền lợi cho chủ thể khi ly hôn. Quy định này đã bảo vệ hiệu quả lợi ích của người phụ nữ trong quá trình giải quyết vụ án ly hôn, đặc biệt là những người phụ nữ là nội trợ, chấp nhận hy sinh công việc tạo ra thu nhập của mình để làm trở thành một người đảm nhận việc chăm sóc con cái, gia đình trong đời sống hôn nhân.

Từ những phân tích trên có thể thấy rằng, pháp luật Việt Nam đã có những quy định cụ thể, đảm bảo tốt lợi ích chính đáng của phụ nữ khi chấm dứt mối quan hệ hôn nhân. Dưới góc độ lý thuyết pháp luật nữ quyền, có thể nhận thấy lý thuyết này đã được áp dụng một cách nhân văn và tiến bộ trong một số quy định pháp luật vừa phân tích.

Cùng chuyên mục

Một số vấn đề pháp lý vụ đô vật tử vong trong khi thi đấu ở hội làng
Theo các chuyên gia pháp lý, trường hợp nếu có lỗi gây ra hậu quả nghiêm trọng, người có lỗi phải chịu trách nhiệm pháp lý. Trường hợp nếu không xác định được lỗi của tổ chức cá nhân, vấn đề trách nhiệm pháp lý sẽ không được đặt ra. Tuy nhiên, vấn đề hỗ trợ cho gia đình có người tử vong sẽ được thực hiện theo quy chế, chính sách của địa phương thể hiện tính nhân đạo, nhân văn làm giảm bớt nỗi đau của gia đình đô vật.
Một bản án, nhiều cảnh báo cho thị trường vay mua nhà
Giữa niềm tin tín dụng và rủi ro pháp lý, đôi khi chỉ cách nhau một dấu mộc cấp phép. Một bản án tại TP. HCM, dù chưa có hiệu lực, đã khiến giới tài chính và pháp lý giật mình: ngân hàng giải ngân khoản vay mua nhà hình thành trong tương lai, dựa trên hợp đồng đặt cọc tại dự án chưa đủ điều kiện huy động vốn. Tòa tuyên hợp đồng tín dụng vô hiệu.
Bàn về quy định khiển trách đối với người chưa thành niên phạm tội
Biện pháp khiển trách là một trong những biện pháp xử lý chuyển hướng được quy định tại Luật Tư pháp người chưa thành niên, sẽ có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 01/01/2026. Khiển trách được áp dụng nhằm mục đích giúp người chưa thành niên phạm tội nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả gây ra đối với cộng đồng, xã hội, thể hiện rõ tính chất giáo dục chứ không đề cao tính chất trừng trị như hình phạt. Luật Tư pháp người chưa thành niên quy định rất cụ thể về điều kiện, phạm vi áp dụng, trình tự thủ tục và nghĩa vụ của người bị khiển trách, tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề cần nghiên cứu.
Bàn về quy định tổng hợp hình phạt của nhiều bản án theo quy định tại khoản 3 Điều 51 Bộ luật Hình sự
Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung cũng như hoạt động quyết định hình phạt trong tố tụng hình sự nói riêng. Tuy nhiên, điều luật này còn dẫn đến những cách nhìn nhận khác nhau khi áp dụng pháp luật.
Gian lận thi cử khi sử dụng AI có thể bị xử lý thế nào?
Theo luật sư, việc thí sinh sử dụng công nghệ AI để gian lận thi cử là hành vi vi phạm đạo đức, làm mất công bằng trong giáo dục. Tùy vào mức độ vi phạm, hành vi này có thể bị xử lý theo quy chế thi, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Chuyển án tù sang phạt tiền – Pháp luật quy định thế nào?
Nói đến hình sự thì người ta nói đến hai vấn đề lớn đó là tội phạm về hình phạt. Đối với một vụ án hình sự thì cũng có hai vấn đề mà cơ quan tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng quan tâm là bị cáo có tội hay không, nếu có tội rồi thì hình phạt như thế nào?
Hành vi lừa dối khách hàng bị xử lý hình sự trong trường hợp nào?
Theo quy định tại Bộ luật Hình sự, hành vi lừa dối khách hàng có thể bị xử lý hình sự khi đã bị xử phạt hành chính về hành vi lừa dối khách hàng hoặc đã bị kết án về tội "Lừa dối khách hàng", chưa được xóa án tích nhưng lại vi phạm, thu lợi bất chính từ 05 triệu đồng trở lên.
Quyền của người cầm cố tài sản
Cầm cố tài sản là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, theo đó bên có nghĩa vụ giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên kia để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự.
Từ những đại án năm 2024 - Gạn đục khơi trong để giữ vững niềm tin
Năm 2024 chứng kiến sự quyết liệt chưa từng có trong cuộc chiến chống tham nhũng, với hàng loạt đại án dưới sự chỉ đạo của Trung ương đã phơi bày những góc khuất đau lòng trong các lĩnh vực trọng yếu như bất động sản, ngân hàng, ngoại giao và chứng khoán. Những vụ án này không chỉ đưa ra ánh sáng những sai phạm khổng lồ mà còn khẳng định một lằn ranh đỏ nghiêm khắc của pháp luật.

Tin mới

Giảm thuế nhập khẩu một số mặt hàng xăng dầu về 0%
Ngày 09/03/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 72/2026/NĐ-CP sửa đổi mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng xăng, dầu, nguyên liệu sản xuất xăng, dầu tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi ban hành kèm theo Nghị định số 26/2023/NĐ-CP ngày 31/5/2023 của Chính phủ về Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, Danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan.
Dự kiến tăng 8% lương cơ sở từ 01/7
Tại hội nghị tiếp xúc cử tri với người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI tại tỉnh Lào Cai, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà đã thông tin, trao đổi với cử tri về lộ trình cải cách tiền lương, cải cách thủ tục hành chính và một số vấn đề phát triển kinh tế – xã hội được cử tri quan tâm.