Hotline: 0969 332 828 Email: [email protected]
Chủ nhật, 16/03/2025 14:51 (GMT+7)

Quyền của người cầm cố tài sản

Cầm cố tài sản là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, theo đó bên có nghĩa vụ giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên kia để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự.

Điều 309 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ”.

Có thể hiểu một cách đơn giản, cầm cố tài sản là một hình thức vay tiền, theo đó người vay (bên cầm cố) sẽ giao tài sản có giá trị (như vàng, điện thoại, xe máy...) cho người cho vay (bên nhận cầm cố) để làm bảo đảm. Nếu người vay không trả được nợ đúng hạn, người cho vay có quyền bán tài sản đó để thu hồi số tiền đã cho vay.

Đối tượng của cấm cố tài sản

Đối tượng của cầm cố tài sản là tài sản, tài sản có thể là động sản hoặc bất động sản. Tài sản cầm cố cần đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 295 Bộ luật Dân sự 2015:

- Tài sản cầm cố phải thuộc sở hữu của bên cầm cố hoặc người được ủy quyền hợp pháp.

- Tài sản cầm cố phải là tài sản được phép giao dịch theo quy định pháp luật. Các tài sản bị cấm giao dịch hoặc hạn chế giao dịch không được dùng để cầm cố.

- Tài sản cầm cố có thể được mô tả chung theo thỏa thuận của các bên nhưng phải xác định được.

- Giá trị của tài sản được mang đi cầm cố có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được cầm cố.

- Tài sản cầm cố có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai. Việc cầm cố bằng tài sản hình thành trong tương lai không áp dụng với quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 4 Điều 10 Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 Quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

- Tài sản cầm cố có thể là động sản hoặc bất động sản. Tuy nhiên, khi cầm cố bất động sản cần lưu ý như sau: Bộ luật Dân sự 2015 cho phép cầm cố bất động sản và khi bất động sản là đối tượng của cầm cố thì việc cầm cố bất động sản có hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký. Nhưng trên thực tế, vì rủi ro của việc cầm cố bất động sản khá cao nên đối tượng này thường không được ưu tiên trong biện pháp cầm cố.

Quyền và nghĩa vụ của bên cầm cố tài sản

Quyền và nghĩa vụ của bên cầm cố được quy định tại Điều 311 và 312 Bộ luật Dân sự năm 2015. Cụ thể bao gồm:

- Quyền yêu cầu bên nhận cầm cố chấm dứt việc sử dụng tài sản cầm cố trong trường hợp các bên thỏa thuận về việc bên nhận cầm cố được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng tài sản cầm cố và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố quy định tại khoản 3 Điều 314 Bộ luật Dân sự nếu do sử dụng mà tài sản cầm cố có nguy cơ bị mất giá trị hoặc giảm sút giá trị.

- Quyền yêu cầu bên nhận cầm cố trả lại tài sản cầm cố và giấy tờ liên quan, nếu khi có nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt.

- Quyền yêu cầu bên nhận cầm cố bồi thường thiệt hại xảy ra đối với tài sản cầm cố.

- Quyền được bán, thay thế, trao đổi, tặng cho tài sản cầm cố nếu được bên nhận cầm cố đồng ý hoặc theo quy định của luật.

Về nghĩa vụ, bên cầm cố phải thực hiện những nghĩa vụ sau:

- Giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố theo đúng thỏa thuận.

- Báo cho bên nhận cầm cố về quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố, nếu có; trường hợp không thông báo thì bên nhận cầm cố có quyền hủy hợp đồng cầm cố tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố.

- Thanh toán cho bên nhận cầm cố chi phí hợp lý để bảo quản tài sản cầm cố, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Quyền và nghĩa vụ của bên nhận cầm cố tài sản

Căn cứ theo Điều 314 Bộ luật Dân sự năm 2015, bên nhận cầm cố có những quyền sau:

- Yêu cầu người đang chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật tài sản cầm cố trả lại tài sản đó.

- Xử lý tài sản cầm cố theo phương thức đã thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.

- Được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng tài sản cầm cố và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, nếu có thỏa thuận.

- Được thanh toán chi phí hợp lý bảo quản tài sản cầm cố khi trả lại tài sản cho bên cầm cố.

Nghĩa vụ bên nhận cầm cố được quy định tại Điều 313 Bộ luật Dân sự, bao gồm:

- Bảo quản, giữ gìn tài sản cầm cố; nếu làm mất, thất lạc hoặc hư hỏng tài sản cầm cố thì phải bồi thường thiệt hại cho bên cầm cố.

- Không được bán, trao đổi, tặng cho, sử dụng tài sản cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác.

- Không được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

- Trả lại tài sản cầm cố và giấy tờ liên quan, nếu có khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác.

Cùng chuyên mục

Một bản án, nhiều cảnh báo cho thị trường vay mua nhà
Giữa niềm tin tín dụng và rủi ro pháp lý, đôi khi chỉ cách nhau một dấu mộc cấp phép. Một bản án tại TP. HCM, dù chưa có hiệu lực, đã khiến giới tài chính và pháp lý giật mình: ngân hàng giải ngân khoản vay mua nhà hình thành trong tương lai, dựa trên hợp đồng đặt cọc tại dự án chưa đủ điều kiện huy động vốn. Tòa tuyên hợp đồng tín dụng vô hiệu.
Bàn về quy định khiển trách đối với người chưa thành niên phạm tội
Biện pháp khiển trách là một trong những biện pháp xử lý chuyển hướng được quy định tại Luật Tư pháp người chưa thành niên, sẽ có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 01/01/2026. Khiển trách được áp dụng nhằm mục đích giúp người chưa thành niên phạm tội nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả gây ra đối với cộng đồng, xã hội, thể hiện rõ tính chất giáo dục chứ không đề cao tính chất trừng trị như hình phạt. Luật Tư pháp người chưa thành niên quy định rất cụ thể về điều kiện, phạm vi áp dụng, trình tự thủ tục và nghĩa vụ của người bị khiển trách, tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề cần nghiên cứu.
Quyền lợi của phụ nữ trong giải quyết vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật
Đời sống xã hội ngày càng phát triển, tình trạng bất bình đẳng giới cũng ngày càng thu hẹp, nhận thức về vai trò và vị trí của nữ giới dần được nâng cao. Trong bối cảnh đó, các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi của phụ nữ đã được chú ý nhiều hơn qua những lần các văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới. Bài viết nhằm phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong giải quyết vụ án ly hôn để từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa pháp luật Việt Nam đối với lĩnh vực này.
Bàn về quy định tổng hợp hình phạt của nhiều bản án theo quy định tại khoản 3 Điều 51 Bộ luật Hình sự
Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung cũng như hoạt động quyết định hình phạt trong tố tụng hình sự nói riêng. Tuy nhiên, điều luật này còn dẫn đến những cách nhìn nhận khác nhau khi áp dụng pháp luật.
Gian lận thi cử khi sử dụng AI có thể bị xử lý thế nào?
Theo luật sư, việc thí sinh sử dụng công nghệ AI để gian lận thi cử là hành vi vi phạm đạo đức, làm mất công bằng trong giáo dục. Tùy vào mức độ vi phạm, hành vi này có thể bị xử lý theo quy chế thi, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Chuyển án tù sang phạt tiền – Pháp luật quy định thế nào?
Nói đến hình sự thì người ta nói đến hai vấn đề lớn đó là tội phạm về hình phạt. Đối với một vụ án hình sự thì cũng có hai vấn đề mà cơ quan tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng quan tâm là bị cáo có tội hay không, nếu có tội rồi thì hình phạt như thế nào?
Hành vi lừa dối khách hàng bị xử lý hình sự trong trường hợp nào?
Theo quy định tại Bộ luật Hình sự, hành vi lừa dối khách hàng có thể bị xử lý hình sự khi đã bị xử phạt hành chính về hành vi lừa dối khách hàng hoặc đã bị kết án về tội "Lừa dối khách hàng", chưa được xóa án tích nhưng lại vi phạm, thu lợi bất chính từ 05 triệu đồng trở lên.
Từ những đại án năm 2024 - Gạn đục khơi trong để giữ vững niềm tin
Năm 2024 chứng kiến sự quyết liệt chưa từng có trong cuộc chiến chống tham nhũng, với hàng loạt đại án dưới sự chỉ đạo của Trung ương đã phơi bày những góc khuất đau lòng trong các lĩnh vực trọng yếu như bất động sản, ngân hàng, ngoại giao và chứng khoán. Những vụ án này không chỉ đưa ra ánh sáng những sai phạm khổng lồ mà còn khẳng định một lằn ranh đỏ nghiêm khắc của pháp luật.
Nhận tội thay cho người khác phạm tội gì?
Theo Luật sư, hành vi nhận tội thay cho người khác có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội "Che giấu tội phạm", tội "Cung cấp tài liệu sai sự thật hoặc khai báo gian dối" hoặc tội "Không tố giác tội phạm" nếu thỏa mãn các yếu tố cấu thành các tội phạm này.

Tin mới

Tạm dừng áp dụng Nghị định số 46 về an toàn thực phẩm
Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 09/2026/NQ-CP về việc tạm ngưng hiệu lực và điều chỉnh thời hạn áp dụng Nghị định số 46/2026/NĐ-CP ngày 26/01/2026 quy định chi tiết thi hành một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật An toàn thực phẩm và Nghị quyết số 66.13/2026/NQ-CP ngày 27/01/2026 quy định về công bố, đăng ký sản phẩm thực phẩm.